Bài suy niệm Chúa Nhật 4 Mùa Chay - Năm A | Đau khổ, một thách đố cho đức tin

11/03/2026
85


BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY – NĂM A

Đau khổ, một thách đố cho đức tin

Cộng đoàn phụng vụ thân mến,

Đau khổ dường như là một cái gì đó gắn liền với thân phận của kiếp người, như Nguyễn Công Trứ đã từng diễn tả: “Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe, đời có vui sao chẳng cười khì”. Hay như giáo lý nhà Phật đã bảo: “đời là bể khổ mà mỗi người chúng ta như cánh bèo dạt trôi trên đó”. Trong kinh “lạy nữ vương” chúng ta thường đọc: “chúng con ở nơi khóc lóc than thở”. Đúng thế, trần gian này là một thung lũng nước mắt. Tiếng nức nở than van thì nhiều hơn tiếng cười rạng rỡ. Ngày vui thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay, còn ngày buồn thì đầy những tiếng thở dài. Bởi đó, chúng ta có thể xác quyết được rằng: “sống là đau khổ”.

Nhìn vào những bất hạnh xảy ra cho mình hay cho người khác, một câu hỏi thường được đặt ra là : tại sao lại có đau khổ? Câu hỏi trên đây cũng như những câu hỏi khác tương tự, chẳng bao giờ có thể có được những câu trả lời thoả đáng.

Ngày xưa, người Do Thái thời Chúa Giêsu và cũng có thể là nhiều người trong chúng ta hôm nay nữa, đã trả lời cho những câu hỏi mà chúng ta vừa nêu lên ở trên, một cách rất dễ dàng, đó là bởi tội. Chính vì thế mà trong bài Tin mừng, khi trông thấy một người mù từ khi mới sinh, các môn đệ của Chúa Giêsu đã hỏi Ngài rằng : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, người này hay là cha mẹ của anh ta, đến nỗi người này đã bị mù như vậy?” ( Ga 9,2 ). Chúa Giêsu đã trả lời một cách rõ ràng không úp mở : “Chẳng phải người này, cũng chẳng phải cha mẹ của anh ta đã phạm tội, nhưng là để việc của Thiên Chúa được tỏ ra trong người ấy” ( Ga 9,3 ).

Đau khổ là đồng hồ báo thức mà Thiên Chúa đặt trong mỗi người chúng ta. Đồng hồ báo thức ấy, không những đánh thức chúng ta, mà còn đánh thức cả những người chúng quanh chúng ta nữa. Nó đánh thức chúng ta khi chúng ta đang ngủ vuì trong những ảo ảnh, trong của cải, trong thế lực, trong thú vui. Mẹ Têrêxa Calcutta thì lại coi đau khổ bất hạnh là những nụ hôn mà Thiên Chúa dành cho con người. Nhưng cứ thường tình mà nói, chẳng ai trong chúng ta đây muốn nhận những báo thức, những món quà hay những nụ hôn đó cả. Có lẽ tất cả chúng ta cũng sẽ phản ứng như em bé được mẹ Têrêxa an ủi khi em đang gặp đau khổ. Mẹ nói với em : “Đau khổ là những nụ hôn, Chúa gởi đến cho con đó”, Và em bé nói ngay với mẹ : “Vậy thì Mẹ nói với Chúa cho con là thôi, Chúa đừng hôn con nữa”.

Đứng trước vấn đề đau khổ, những người không có đức tin sẽ nguyền rủa, sẽ phẫn uất, bi quan và dao động. Họ sẽ loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời của họ, bởi theo họ nếu có Thiên Chúa thì tại sao Ngài lại để cho họ phải đau khổ? Tại sao lại để cho động đất, sóng thần, khủng bố bạo lực xảy ra triền miên? Tại sao những người tốt thì luôn gặp đau khổ, còn những kẻ xấu thì lại được hưởng niềm vui, hạnh phúc? Tại sao Thiên Chúa lại im lặng trước nỗi thống khổ của con người? Và vô vàn câu hỏi tại sao nữa. Không phải chỉ có những người không có niềm tin, mà ngay cả những người có đức tin khi gặp đau khổ, họ cũng có thái độ phản kháng như vậy. Và như thế, đau khổ là một vật cản con người đến với niềm tin.

Trở lại với câu truyện người mù từ khi mới sinh, theo cái nhìn của mọi người, người mù kia sở dĩ bị như thế là vì có tội. Tội đó có thể là do chính đương sự, cũng có thể là tội của cha mẹ đương sự. Còn quan điểm của Chúa Giêsu, của những người tin Chúa thì không như vậy. Bởi đó khi trả lời cho câu hỏi của các môn đệ đặt ra, về người mù từ khi mới sinh, thì Chúa Giêsu đã quả quyết : “ Chẳng phải người này, cũng chẳng phải cha mẹ của anh ta đã phạm tội, nhưng là để cho việc của Thiên Chúa được tỏ ra trong người đó” ( Ga 9,3 ). Rõ ràng ở đây việc của Thiên Chúa đã được tỏ ra trong người mù, đó là việc làm cho anh được sáng mắt. Việc làm đó biểu lộ một cách tỏ tường quyền năng của Thiên Chúa. Với quyền năng đó, Chúa Giêsu không những đã cho anh mù được biến đổi bên ngoài về phần thể xác, nghĩa là từ tình trạng mù mắt sang tình trạng sáng mắt, mà Ngài còn làm cho anh được biến đổi trong tâm hồn của anh. Anh đang từ tình trạng hững hờ đối với Thiên Chúa, hững hờ đến nỗi, khi được hỏi về người đã chữa sáng mắt cho anh là ai, ở đâu, anh đã trả lời : “Tôi không biết”.

Tiến lên một bước nữa là tuyên xưng người đã chữa sáng mắt cho mình là tiên tri, khi anh được các Biệt phái hỏi anh về Chúa Giêsu, rồi anh mù đã tiến lên bước thứ hai là tuyên xưng người đã chữa sáng mắt cho anh là Đấng Thiên Sai, sau cùng khi được chính vị ân nhân hỏi rằng: “Anh có tin vào Con Người không ?” thì anh đã mạnh dạn tuyên xưng : “Lạy Ngài, tôi tin”. Mặc dù biết rằng việc tuyên xưng như vậy sẽ làm cho anh bị cộng đoàn khai trừ. Như vậy dưới cái nhìn của Thiên Chúa, của những người tin Chúa, những nỗi bất hạnh, những nỗi khổ đau được nhìn dưới viễn tượng, để làm vinh danh Thiên Chúa.

Có lẽ nhiều người chúng ta hiện nay cũng đang ở vào một hoàn cảnh giống như người mù ở đây. Chúng ta không bị mù như người mù kia đâu, nhưng có thể chúng ta đang ở trong tình trạng đen tối như  người mù. Những khó khăn về tài chính, về tình cảm, về hôn nhân, về gia đình, về sức khỏe, những khó khăn đó có thể đang đưa chúng ta vào một ngõ cụt tối tăm trong đời sống của mình. Hoàn cảnh mà mỗi người chúng ta gặp tuy có khác nhau, nhưng phương thức của Chúa dùng để hành động trong cuộc đời chúng ta rất giống nhau, đó là để cho danh Chúa được hiển vinh. Bởi đó, khi gặp những nỗi bất hạnh, những nỗi khổ đau, chúng ta đừng vội đổ lỗi cho ai, đừng vội vàng qui trách nhiệm cho người nào, đừng hỏi tại sao, nhưng chúng ta hãy đến với Chúa để tìm hiểu ý của Ngài và khi đã biết được ý Chúa, hãy vui lòng chấp nhận ý đó, và cũng sẵn sàng chờ đợi Chúa làm những việc lạ lùng trong đời sống của chúng ta để cho danh Chúa được tôn vinh.

Cuối cùng, trong chương trình cứu độ quan phòng của Thiên Chúa, chúng ta tin rằng đau khổ không bao giờ nhận chìm con người, nhưng mời gọi con người tỉnh thức và vươn lên trong sự thiện, trong nỗ lực cậy trông và tin tưởng. Đau khổ nhắc nhở chúng ta về thân phận và kiếp sống mỏng manh của mình, để đừng có bám víu vào bất cứ điều gì hay bất cứ người nào, mà chỉ đặt hy vọng vào một mình Thiên Chúa mà thôi. Chúa thương ai nhiều, thì Chúa cũng muốn cho họ đau khổ nhiều hơn, để họ được nên tinh tuyền và hoàn thiện trong tình yêu. Xác tín vào điều đó để khi gặp đau khổ, chúng ta biết cậy trông vào Chúa, luôn bình tâm trong mọi nỗi khổ đau của cuộc đời mình để giữ vững niềm tin.

Để kết thúc, xin được mượn lời cầu nguyện của một ai đó: “ Lạy Chúa, con cầu xin ơn mạnh mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Chúa lại làm cho con ra yếu ớt để biết vâng lời khiêm hạ. Con cầu xin có sức khỏe, để mong thực hiện những công trình lớn lao, Chúa lại cho con ra tàn tật, để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành. Con cầu xin được giàu sang, để sống sung sướng thoải mái, Chúa lại cho con nghèo nàn để biết thế nào là khôn ngoan. Con cầu xin cho có được uy quyền, để mọi người phải kính nể ca ngợi, Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết con cần Chúa. Con xin gì cũng chẳng được theo ý muốn. Nhưng những điều con đáng phải mơ ước, mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin, thì Chúa lại ban cho con thật dư đầy từ lâu. Xin cho con luôn biết chúc tụng Chúa trong mọi biến cố của cuộc đời”. 

                                                                   Linh mục Giuse Phan Cảnh

                                                ĐCV Thánh Phaolo Lê Bảo Tịnh Thanh Hóa